• Thứ ba 19/10/2021 06:44

Chuyên gia hiến kế giúp Việt Nam đi vào trạng thái bình thường mới bền vững

27/09/2021

Dự báo tăng trưởng GDP trong năm 2021 của Việt Nam là 4,8%, đây là mức tăng trưởng trung bình trên thế giới. Vậy, Việt Nam cần có kế hoạch gì trong trường hợp dịch bệnh Covid-19 tiếp diễn trong năm 2022, thậm chí đến năm 2023?

Công nhận “Hộ chiếu vaccine” giữa Việt Nam với các quốc gia là đặc biệt cần thiết

Nâng cao hiệu quả, hiệu lực thực thi chính sách

Tại Tọa đàm chuyên gia về kinh tế - xã hội do Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì ngày 27/9, ông Jacques Morisset, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết, năm 2020 được xem là một năm của những khó khăn và thách thức lớn đối với kinh tế thế giới nói chung, trong đó có Việt Nam. Kinh tế thế giới được đánh giá suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19.

Chuyên gia hiến kế giúp Việt Nam đi vào trạng thái bình thường mới bền vững
Ông Jacques Morisset, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam phát biểu

Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng với tốc độ tăng GDP ước tính đạt 2,91%. Cùng với Trung Quốc và Myanma, Việt Nam là một trong ba quốc gia ở châu Á có mức tăng trưởng tích cực trong năm nay; đồng thời quy mô nền kinh tế nước ta đạt hơn 343 tỷ USD, vượt Singapore (337,5 tỷ USD) và Malaysia (336,3 tỷ USD), đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia, Thái Lan và Phillipines).

Nhưng, tác động mạnh mẽ của lần bùng phát thứ 4 của đại dịch Covid-19, đại diện Ngân hàng Thế giới cho biết, Việt Nam từ nước có mức tăng trưởng thuộc nhóm các quốc gia cao của thế giới trong năm 2020 (2,9%), đã xuống nhóm có mức tăng trưởng trung bình. Dự báo tăng trưởng GDP trong năm 2021 của Việt Nam là 4,8%, đây là mức tăng trưởng trung bình trên thế giới. Trong khi đó, các quốc gia ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương có mức tăng trưởng GDP cao nhất là 7,6%, khu vực Nam Á có mức tăng là 7,3%, các quốc gia thu nhập trung bình trên thế giới cũng có mức tăng GDP trung bình khoảng 6,8%.

"Việt Nam từ một ngôi sao, có mức tăng trưởng thuộc nhóm các quốc gia cao của thế giới trong năm 2020 (2,9%), thì đã rơi xuống nhóm có mức tăng trưởng trung bình" - đại diện Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nói, đồng thời chỉ ra 5 nguyên nhân của kết quả đi xuống ở Việt Nam, là do tình hình y tế xấu đi; các chương trình tiêm chủng chậm ngay cả khi đã được tăng tốc trong thời gian gần đây; hạn chế di chuyển nghiêm ngặt hơn; chính sách ứng phó về kinh tế có quy mô nhỏ và thiếu cân bằng; các chương trình trợ giúp xã hội còn rụt rè, hạn chế.

Vậy Việt Nam cần có kế hoạch gì trong trường hợp dịch bệnh Covid-19 tiếp diễn trong năm 2022, thậm chí đến năm 2023, đại diện Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đưa ra các đề xuất gồm: Tiếp tục xác định tiêm chủng (đồng thời với xét nghiệm) có ý nghĩa quan trọng để kiểm soát đại dịch và cũng để giảm thiểu thiệt hại về kinh tế; tiếp tục có những hạn chế đi lại nhưng phải thông minh hơn; tìm điểm cân bằng phù hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; tăng cường trợ giúp xã hội để ngăn chặn tình trạng kiệt quệ tài chính ở các nhóm dễ bị tổn thương và hạn chế gia tăng bất bình đẳng.

Một đề xuất quan trọng khác của đại diện Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam là phải thực thi hiệu quả các giải pháp được Quốc hội, Chính phủ xác định, cũng như khuyến nghị của các tổ chức thế giới. “Cần rút kinh nghiệm từ việc kết quả phòng, chống dịch, phục hồi kinh tế có kết quả không đồng đều giữa các địa bàn để xác định cách thức thực thi hiệu quả các giải pháp được xác định thời gian qua. Từ đó, giúp Việt Nam có thể đi vào trạng thái bình thường mới bền vững - ông Jacques Morisset nêu.

Đại diện Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nhấn mạnh, đã đến lúc cần suy nghĩ và thực hiện những cải cách thể chế quan trọng để nâng cao hiệu quả, hiệu lực thực thi chính sách. Cụ thể, cần đơn giản hoá các quy trình và thủ tục hành chính; sử dụng thông minh các công cụ thị trường (chính sách khuyến khích); tăng cường thực thi các quy định pháp luật; thúc đẩy các quy trình có sự tham gia của người dân và doanh nghiệp.

Ba vấn đề lớn khiến doanh nghiệp bận tâm khi quay lại sản xuất

Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành cho rằng, khác với năm 2009, khi triển khai chương trình phục hồi nền kinh tế sau khủng hoảng tài chính thế giới, gói phục hồi nền kinh tế lần này phải bao gồm nhiều chương trình nhỏ từ mảng cải cách thể chế, môi trường kinh doanh đầu tư, hạ tầng, hỗ trợ doanh nghiệp đến đào tạo kỹ năng mới cho lao động, chuyển đổi số...

Chuyên gia hiến kế giúp Việt Nam đi vào trạng thái bình thường mới bền vững
Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành chia sẻ tại tọa đàm

“Chúng ta có thể gói gọn yêu cầu với chương trình phục hồi nền kinh tế lần này là “Vượt khó”, “Bắt nhịp phục hồi của kinh tế thế giới” và “Gắn với các xu hướng lớn trên thế giới”, và phải gắn với tái cơ cấu, thực hiện cải cách” - Võ Trí Thành nói, đồng thời chia sẻ, một bài học nữa cần rút nghiệm trong thời kỳ "nước sôi lửa bỏng" này là Chính phủ, Quốc hội khi ban hành nghị quyết thì cần đưa ra giải pháp kèm theo. Các nghị quyết quy định thời hạn thực hiện nhiệm vụ giao cho các bộ, ngành.

Theo ông Võ Trí Thành, qua làm việc với nhiều doanh nghiệp tại khu vực phía Nam, nhất là doanh nghiệp khu vực Đông Nam Bộ, đang có ba vấn đề lớn khiến doanh nghiệp bận tâm khi thực hiện quá trình quay lại sản xuất thời gian tới. Thứ nhất, cần có một khung khổ chống dịch chung để doanh nghiệp yên tâm bắt đầu quay lại sản xuất, kinh doanh. Thứ hai, vấn đề lao động cần được quan tâm thích đáng, vì những hiện tượng dịch chuyển lao động, trạng thái lao động xảy ra thời gian qua khiến doanh nghiệp có thể phải mất 2 năm mới có thể quay lại nguồn lực lao động như trước dịch bệnh. Thứ ba là hỗ trợ dòng tiền và tài chính cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, về cải cách thể chế, Quốc hội cần xem xét kỹ lưỡng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm, cũng như trong giai đoạn 2021 - 2025, trong đó có một số nhóm chính sách, pháp luật cần quan tâm hoàn thiện trước tiên trong thời gian tới. Nhóm thứ nhất là chính sách, pháp luật để phân bổ hiệu quả các nguồn lực sẵn có để phát triển đất nước, nhất là pháp luật về đất đai.

Nhóm thứ hai là chính sách, pháp luật thúc đẩy sáng tạo, trong đó cần sớm nghiên cứu, xây dựng luật về cơ sở dữ liệu. Dữ liệu là nguồn tài nguyên quan trọng nhưng khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực này được Việt Nam hoàn thiện chậm hơn so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Và cũng có nhiều vấn đề đằng sau cần có quy định pháp luật điều chỉnh như quyền tài sản, quyền dữ liệu...

Nhóm thứ ba là các chính sách, pháp luật về công chức để tạo điều kiện họ “dám làm và dám chịu trách nhiệm”. Nhóm thứ tư là các chính sách, pháp luật về tình trạng khẩn cấp để xác định trong trường hợp khẩn cấp sẽ trao quyền cho Chính phủ như thế nào? Cách thức ứng phó như thế nào để bảo đảm linh hoạt, chuyên nghiệp, có chi phí rẻ?

Quỳnh Nga

Mới nhất
tcty-dau-khi-vn-pv-power-moi
tcty-phan-bon-va-hoa-chat-dau-khi-ctcp-dam-phu-my
Scroll