• Thứ hai 13/07/2020 19:33

Biến đổi khí hậu và những tác động đến sản xuất thương mại của Hà Nội

03/12/2019

Nhằm có những thông tin, dữ liệu khoa học chính xác, tin cậy để từ đó có giải pháp kịp thời, thời gian qua Sở Công Thương Hà Nội đã phối hợp với các đơn vị liên quan đánh giá tác động của biến đổi khí hậu lên hoạt động sản xuất công nghiệp và thương mại của thủ đô.

Hà Nội hiện có gần 200 doanh nghiệp sản xuất giấy, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cho nên trình độ công nghệ còn lạc hậu, công tác kiểm soát khí thải, nước thải, chất thải… trong quá trình sản xuất còn nhiều hạn chế. Trước thách thức đó, Sở Công Thương Hà Nội đã phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành đánh giá tác động về ứng phó biến đổi khí hậu tại các doanh nghiệp sản xuất thuộc giấy.

bien doi khi hau va nhung tac dong den san xuat thuong mai cua ha noi
Ảnh minh họa

Theo các chuyên gia tư vấn, quá trình sản xuất giấy phát thải ra môi trường dưới cả ba dạng rắn, lỏng và khí. Trong đó, nước thải: Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước sản xuất giấy bao gồm: Tải lượng BOD5 từ các quy trình này khoảng từ 300 - 360kg đối với 1 tấn bột giấy khô gió, tương tự như vậy tải lượng COD tạo ra bằng khoảng 1.200 - 1.600kg đối với 1 tấn bột giấy khô gió. Tại các nhà máy bột giấy được tẩy trắng, công đoạn tẩy chính là công đoạn gây ô nhiễm nhiều nhất. Nước thải từ công đoạn tẩy chiếm 50-75% tổng lượng nước thải và chiếm 80-95% tổng lượng dòng thải ô nhiễm.

Khí thải: Quá trình nấu tạo ra khí H2S có mùi rất khó chịu, methyl mercaptant, dimethyl sulphide và dimethyl-disulphide. Các hợp chất này thường được gọi là tổng lượng lưu huỳnh dạng khử (TRS) được thoát ra từ quá trình nấu, khi phóng bột. Các hợp chất mùi phát sinh khác có tỉ lệ tương đối nhỏ hơn so với TRS và có chứa hydrocarbons. Trong quá trình thu hồi hóa chất, một lượng SO­2 nồng độ cao cũng bị thoát ra ngoài. Các oxit lưu huỳnh được sinh ra từ các nhiên liệu có chứa sulphur (như than đá, dầu FO, v.v...) được sử dụng cho nồi hơi để tạo hơi nước. Phát thải bụi cũng được quan sát thấy tại một số lò hơi đốt than khi không có đủ các thiết bị kiểm soát bụi (cyclon, túi lọc, ESP, v.v...).

Chất thải rắn: gồm bùn, tro, chất thải gỗ, tạp sàng, phần tách loại từ quá trình làm sạch ly tâm, cát và sạn. Nguồn chính của bùn là cặn của bể lắng, và cặn từ tầng làm khô của trạm xử lý nước thải. Đôi khi còn có cặn dầu thải từ thùng chứa dầu đốt. Khi sử dụng than, xỉ và phần than chưa cháy từ lò hơi cũng là nguồn thải rắn cần phải được thải bỏ một cách an toàn. Lượng thải rắn của các công đoạn/hoạt động khác nhau phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như quy mô hoạt động, thành phần nguyên liệu thô, v.v... và rất khó ước tính.

Dựa trên nguồn số liệu chính thức được điều tra mới nhất và phương pháp sử dụng tính toán hệ số phát thải khí nhà kính của UNFCCC, việc xây dựng thí điểm chỉ số phát thải CO2 cho một đơn vị sản phẩm trong ngành giấy là cần thiết. Lượng phát thải thải từ các nguồn: hệ thống xử lý nước thải 1.120 tấn CO2; yếu tố con người 158,1 tấn CO2; than đá 8.100 tấn CO2; điện 5.567 tấn CO2, phát thải từ những nguồn khác không đáng kể. Chỉ số phát thải CO2 là 252 kg CO2/tấn sản phẩm.

Trước những tính toán trên, Hà Nội đã lồng ghép chương trình sản xuất sạch hơn, chương trình tiết kiệm năng lượng, chương trình khuyến công vào các doanh nghiệp giấy. Thông qua đánh giá sản xuất sạch hơn, tư vấn tiết kiệm năng lượng, hỗ trợ đổi mới thiết bị công nghệ của chương trình khuyến công, các doanh nghiệp giấy đã từng bước nâng cao hiệu quả của công tác sử dụng tài nguyên, nhiên vật liệu trong sản xuất từ đó giảm phát thải khí nhà kính, góp phần vào công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu của thủ đô.

Thu Hường

Mới nhất
Scroll